
“Con đường phát triển của Việt Nam không thể tách rời xu thế chung của thế giới và nền văn minh nhân loại” (Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm). “Chỉ có khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo mới là con đường giúp chúng ta bắt kịp, tiến cùng, bứt phá và vượt lên chính chúng ta và thế giới” (Tổng Bí thư Tô Lâm). “Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang là yếu tố quyết định phát triển của các quốc gia” (Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị)
1. Mở đầu
Lịch sử phát triển của xã hội loài người cho thấy khoa học và công nghệ (KH&CN) và đổi mới sáng tạo (ĐMST) vừa là động lực vừa là nguồn lực thúc đẩy tiến bộ xã hội, làm thay đổi lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Minh chứng rõ nhất là sự phát triển của khoa học hiện đại từ thời Khai Sáng đến nay; chính các công cụ lao động, các phát minh, sáng chế và công nghệ mới đã góp phần quan trọng vào việc tạo ra các biến cố về chính trị và xã hội, làm thay đổi diện mạo cuộc sống, tạo ra các thang bậc giá trị mới của xã hội loài người. Trong thời đại ngày nay, đối với VN, đẩy mạnh, tạo đột phá và nâng tầm KH&CN, ĐMST và CĐS là con đường chúng ta đi để phát triển đất nước, kiến tạo tương lai của dân tộc và vinh quang cho giống nòi, không thể khác.
Nghiên cứu khoa học (NCKH),phát triển công nghệ (PTCN) và ĐMST luôn được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm; thể hiện gần đây nhất là Nghị quyết 20-NQ/TW ngày 01/11/2012 đã xác định KH&CN “là quốc sách hàng đầu”; Luật KH&CN năm 2013 tạo hành lang pháp lý cho KH&CN phát triển; Nghị quyết 45-NQ/TW ngày 24/11/2023 về tiếp tục xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ trí thức; đặc biệt là Nghị quyết số 57 ngày 22/12/2024 mới đây của Bộ Chính trị "Về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia" đã tạo ra một động năng mới, một nguồn cảm hứng gần như bất tận cho lao động sáng tạo. Nghị quyết khẳng định khoa học, công nghệ cùng với ĐMST, chuyển đổi số (CĐS) phải được đặt lên ở vị trí “là đột phá quan trọng hàng đầu” với những mục tiêu phải đạt được rất cao.
Vậy chúng ta đang ở đâu? Trên tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, chúng ta phải thừa nhận là, chúng ta đã có nhiều Nghị quyết về KH&CN, về ĐMST, nhưng phần nhiều vẫn chưa thực sự đi vào cuộc sống, vẫn chủ yếu còn nằm trong các báo cáo tổng kết hay trên các bài diễn thuyết hùng hồn và cháy bỏng nào đó; mà theo đó, thì chúng ta đã vượt, đuổi kịp hay ít ra là tiệm cận với Ireland, Nhật bản, Singapore, Hàn Quốc hay Đài Loan từ lâu rồi!
Về kinh tế, Việt Nam được ghi nhận là một trong các nền kinh tế tăng trưởng nhanh liên tục trong nhiều thập niên qua và đã đạt được những bước tiến rất đáng tự hào; nhưng, khi đặt trong tương quan so sánh với các nước trong khu vực và toàn cầu, bức tranh lại hiện lên với nhiều gam màu khiến chúng ta phải trăn trở. Những con số về dân số, diện tích, tổng sản phẩm quốc nội, GDP theo đầu người tính theo PPP... cho thấy Việt Nam là một nước lớn về dân số, trung bình về diện tích, và còn nghèo; chủ yếu vẫn còn là nền kinh tế gia công, lắp ráp, ở phân khúc rất thấp của chuỗi cung ứng toàn cầu, vẫn còn là thân phận ‘khô áo ráo tiền’.
VềKH&CN, dù đã có rất nhiều thành tựu khá ấn tượng, nhưng khi so với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới, so với nhu cầu và yêu cầu phát triển của đất nước, số lượng bằng sáng chế và công trình nghiên cứu khoa học trên đầu người của chúng ta đang rất thấp, chất lượng các công trình nghiên cứu khoa học và bằng sáng chế tại Việt Nam thường bị đánh giá là chưa đáp ứng được kỳ vọng trong việc tạo ra giá trị thực tiễn và tác động đến sản xuất, kinh doanh[1]. Những ồn ào về sửa chữa mặt cầu Thăng Long, sửa chữa Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn; rồi nữa, mỗi khi một mặt hàng nông sản nào đó của chúng ta bị nước nhập khẩu “tuýt còi”, nhất là khi chúng ta đang bị mắc kẹt giữa hàng rào thuế quan “thế hệ mới” và hàng giá rẻ từ Trung Quốc, thì các nhà khoa học mới lại loay hoay tìm cách tháo gỡ, khiến nhiều người băn khoăn về tiềm lực KH&CN thực sự của nước nhà, dù chúng ta có hàng “sư đoàn” các TS, GS, PGS, của hầu hết các lĩnh vực KH&CN.
Không có con đường rải thảm đỏ nào dẫn một quốc gia tới hùng cường và thịnh vượng. Làm thế nào để đưa đấtt nước ta, dân tộc ta ra “mặt tiền” của sự phát triển, sánh vai với các cường quốc năm châu từ một “mặt bằng” như thế? Đây là câu hỏi không dễ, nhưng không thể né tránh. Để thực hiện mục tiêu đó, chỉ có một lối thoát mà các quốc gia như Ireland, Singapore và nhiều nước “đi sau” khác đã đi và thành công, đó là lấy KH&CN, ĐMST là trung tâm. Chỉ có KH&CN và ĐMST mới biến cái không thể thành có thể, mới có thể đưa chúng ta vượt qua được những thách thức và khó khăn tưởng chừng như không thể vượt qua được.
Vậy nên, Việt nam cần và phải có một “Nghị quyết 10” cho KH&CN và ĐMST. Nghị quyết 57 đã lấy cảm hứng từ NQ10 trong nông nghiệp, với các mục tiêu đầy thách thức về phát triển KH&CN, tăng trưởng GDP, thu nhập bình quân đầu người; điều đó cho thấy tầm nhìn chiến lược và quyết tâm chính trị rất cao của Tổng Bí thư và Bộ Chính trị.
Để hiện thực hóa NQ57 trong thực tiễn, có rất nhiều việc cần làm và phải làm. Ở đây, chúng tôi chỉ xin đề cập đến hai vấn đề là (i) chấn hưng giáo dục đại học (GDĐH) và (ii) đổi mới công tác quản lý khoa học và tổ chức nghiên cứu.
2. Chấn hưng “cái nôi” của các phát minh, sáng chế và ĐMST
2.1. Đặt vấn đề
Câu hỏi đặt ra là, tại sao một trong “những việc cần làm ngay” của việc hiện thực hóa NQ57 về KH&CN, ĐMST và CĐS trước hết lại là chấn hưng hệ thống GDĐH? Vì sao các trường đại học phải là trung tâm của hệ sinh thái ĐMST và khởi nghiệp quốc gia? Có lẽ là vì:
(1) Trong lịch sử phát triển của nhân loại, giáo dục luôn giữ vai trò cực kỳ quan trọng đối với sự phát triển và hưng thịnh của mỗi quốc gia, giáo dục có thể làm thay đổi tầm vóc, vị thế và ‘số phận’ của một dân tộc, một cộng đồng. Hình như Nguyễn Trực[2] hay một bậc tiền nhân nào đó của chúng ta cũng đã dạy, đại ý: Khi có được hiền tài, thế nước sẽ mạnh; khi kẻ tiểu nhân và sự dốt nát lộng hành thì thế nước sẽ suy,và ngoại bang sẽ nhòm ngó. Để có được “hiền tài” cần có một nền giáo dục tử tế, thiện lương và tiến bộ. Nếu như giáo dục phổ thông là nhằm ‘cung cấp’ cho xã hội những công dân tốt cho tương lai, tạo đầu vào ‘xứng đáng’ và phù hợp cho GDĐH và giáo dục nghề nghiệp; làm cho con người cao quí hơn lên, không bị tầm thường đi; thì GDĐH nhằm cung cấp các chuyên gia, các nhà khoa học, các trí thức hàng đầu, phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước, mang dấu ấn thời đại.
(2) Trường đại học là nơi làm việc của đa số các TS, GS, PGS – lực lượng rường cột của nền KH&CN quốc gia, đây là nơi đào tạo và tôi luyện ra các nhà khoa học của hiện tại và cho tương lai, nơi tạo nguồn và bệ phóng cho các tổng công trình sư, kiến trúc sư trưởng của những dự án phát triển, những công trình KH&CN mang tầm quốc gia và thời đại trong tương lai.
(3) Nhìn ra thế giới, ai cũng thấy, “cái nôi” của các phát minh, sáng chế và ĐMST chính là các trường đại học[3]; trường đại học là trung tâm của hệ sinh thái NCKH, phát triển công nghệ, ĐMST và khởi nghiệp quốc gia. Cho nên, hệ thống GDĐH thường là biểu tượng cho sức mạnh vật chất và tinh thần của một quốc gia, là biểu tượng cho tri thức và độ dày mỏng văn hóa của một dân tộc; trường đại học thường là niềm tự hào của một thành phố, một xứ sở, một vùng đất.
(4) Chức năng quan trọng, thậm chí cũng có thể gọi là thiêng liêng, cao quý nhất của GDĐH, cái làm cho nó được gọi là “đại học”, đó là việc đào tạo ra những con người có khí chất, có tư duy phản biện, biết suy nghĩ độc lập, có khả năng sáng tạo, nghĩa là dám vượt ra khỏi vùng an toàn, không chịu bị cầm tù trong những chân lý có sẵn. Về đại thể, con người mà nền giáo dục đào tạo ra phải là những con người: (i) Có những hiểu biết và cảm thụ sâu sắc với truyền thống quê hương, với tinh hoa văn hóa của dân tộc; (ii) Có kiến thức khoa học và công nghệ hiện đại; (iii) Có năng lực tư duy độc lập, sáng tạo, để họ có khả năng sống và làm việc linh hoạt, hiệu quả trong một thế giới phức tạp, đầy những bất định và rủi ro. Chưa bao giờ các đức tính đó lại thiết yếu như bây giờ trong xu hướng toàn cầu hóa và kinh tế tri thức đang định hình lại giá trị của mỗi quốc gia.
(5) Lịch sử là dòng chảy của những tháng ngày không ngừng nghỉ. Thời đại mới đòi hỏi con người phải có cách nhìn mới, cách nghĩ mới và những kiến thức, kỹ năng mới của thời đại mình; nên đổi mới hay cải cách giáo dục là việc làm tất yếu ở mọi nơi, mọi lúc, chứ không phải chỉ riêng có ở Việt nam trong giai đoạn hiện nay; chỉ có điều khác là, người ta lặng lẽ đổi mới một cách hiệu quả, còn chúng ta thì đầu năm chí giữa, giữa năm chí cuối rầm rĩ với những ngôn từ về đổi mới GDĐH, nhưng dường như loay hoay mãi mà chưa có được đột phá thực sự nào về chất lượng GDĐH; đành rằng điều đó không phải chỉ phụ thuộc vào ngành giáo dục, vì xã hội thế nào thì giáo dụcthế ấy.
(6) Tư tưởng chủ đạo của làn sóng cải cách giáo dục trên thế giới những năm cuối thế kỷ 20 đầu thế kỷ 21 là chuyển hệ thống giáo dục&đào tạo cũ được xây dựng để đáp ứng yêu cầu và nhu cầu của kỷ nguyên công nghiệp theo quan điểm cổ điển sang hệ thống giáo dục & đào tạo mới thích ứng với những đòi hỏi của kỷ nguyen thông tin, AI và kinh tế tri thức.
(7) Khoảng cách về trình độ kinh tế, KH&CN giữa nước ta với các nước phát triển trên thế giới, kể cả một số nước trong khu vực, có xu hướng ngày càng doãng ra, ta tiến được một bước thì thiên hạ đã tiến vài ba bước; một nguyên nhân quan trọng của thực trạng đó là do chất lượng nguồn nhân lực, sản phẩm của nền giáo dục kiểu cũ, chưa cho ra lò được những con người có đủ phẩm chất và năng lực để tiếp nhận và chủ động sáng tạo ra các “giá trị mới” của thời đại 4.0. Trong khi Việt Nam mới bước vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo cách nhìn cũ thì nhiều nước đã vượt qua hoặc bỏ qua thời đại cách mạng công nghiệp cổ điển để đi thẳng vào thời đại cách mạng thông tin, xây dựng nền kinh tế tri thức và xã hội tri thức;Ireland, Phần Lan là các ví dụ.
(8) Trong bối cảnh toàn cầu hóa, thế giới đang chuyển động như vũ bão, nhìn thực trạng nền giáo dục và đào tạo nước ta một cách khách quan và trách nhiệm, chúng tathấy dường như giáo dục & đào tạo của Việt Nam có nguy cơ bị tụt hậu ngày càng xa hơn so với các nước phát triển, so với một số nước xung quanh, và so với yêu cầu phát triển của đất nước. Dường như, nền giáo dục nước ta về đại thể vẫn dựa trên mô hình quản trị cũ; người ta quên mất rằng, giáo dục không chỉ là học công thức hay ghi nhớ ngày tháng lịch sử, mà giáo dục đích thực là hành trình khám phá, khám phá thế giới khách quan, khám phá chính mình, khám phá mối liên hệ của mình với người khác và với thiên nhiên; nên ở đâu đó, dù vô tình hay hữu ý, dù mô hình STEM đang được khuyến khích phát triển, người ta vẫn dạy nhồi nhét để mong cho mỗi người học đều có thể trở nên thần đồng toán, thần đồng lý, thần đồng hóa, văn sĩ tài cao với các bài văn mẫu, các bài toán mẫu, đã có sẵn lời giải một cách thụ động. Nội dung và phương pháp giáo dục vẫn còn đâu đó xu hướng hư học cổ lỗ, dành nhiều thời gian học những kiến thức hoặc đã lạc hậu, vô bổ, hoặc lại quá thực dụng, thiển cận, chăm chăm nhắm đến lợi ích kinh tế trước mắt, thiếu hoài bão và ước mơ cống hiến, chưa coi trọng đúng mức những vấn đề có ý nghĩa cơ bản suốt đời cho mỗi con người như hình thành nhân cách, rèn luyện năng lực tư duy, khả năng cảm thụ và phản biện, … Dù PISA đánh giá khả quan thế nào, dù các bảng xếp hạng cho thấy đã những khởi sắc ban đầu về trường này lọt top 100, trường kia lọt top 1000 ra sao[4], thì nền GDĐH nước nhà vẫn đang phải đối mặt với một thực tế là hầu hết các học sinh ưu tú nhất, những người được giải cao trong các game show trí tuệ như Đường lên đỉnh Olimpia, các học sinh giành giải cao trong các kỳ thi quốc gia, quốc tế đều tìm đường ra nước ngoài tu nghiệp và làm việc; và, hàng năm vẫn có hàng trăm ngàn du học sinh cùng hảng tỷ USD tiếp tục tìm đến các chân trời xa lạ để học tập và tu nghiệp, tạo nên làm sóng tỵ nạn giáo dục, rất nhiều người ưu tú trong số đó đã ở lại định cư và cống hiến cho xứ người. Dường như những giấc mơ về một miền đất mới, nơi có nền giáo dục hướng đến con người, nơi con người có thể sống với đúng giá trị của mình, vẫn là nỗi khắc khoải của không ít người Việt nam. Người giỏi, người tài cứ rủ nhau đi mãi như thế, chúng ta ở lại với ai? Thực trạng này đối lập hoàn toàn với ‘bức tranh’ mà chúng ta thấy ở đất nước Israel: Hàng triệu người Do Thái tài giỏi từ khắp nơi trên thế giới tìm về mảnh đất sa mạc khô cằn và khắc nghiệt ấy để được cống hiến cho cho quê cha đất tổ của họ!
(9) Một khía cạnh cũng nên được nhìn nhận lại một cách khách quan và dân chủ là, hãy nhìn vào danh sách các nhà khoa học được giải thưởng Hồ Chí Minh, nhất là các nhà khoa học được trao giải thưởng cao quý này vào đợt I và đợt II, đại đa số họ đều là các nhà khoa học tài ba, uyên bác “một cách sang trọng” và lừng lững nhân cách. Có nên đặt ra câu hỏi, nền giáo dục nào đã đào luyện ra những con người có trí tuệ và nhân cách đến như vậy? Bây giờ người “Tây học” thì nhiều, danh xưng học thuật cao quí cũng lắm, nhưng “người sang” trong giới “có học” thử hỏi được bao người; chúng ta kế thừa, học hỏi được những gì từ nền giáo dục đã từng hiện hữu ấy trên đất nước chúng ta?
(10) Từ ngày Đổi mới, GDĐH đạt được những bước tiến rất đáng trân trọng. Những thành tựu ấy có một phần đóng góp không nhỏ từ sức dân, hay còn được gọi bằng mỹ từ là xã hội hóa. Là một dân tộc hiếu học và trọng kẻ sỹ, các bậc phụ huynh không tiếc tiền của và công sức đầu tư cho sự học của con cháu. Hiện nay, tỷ lệ đóng góp giữa nhân dân và nhà nước, theo nhiều chuyên gia, là 50/50, trong khi tỷ lệ đóng góp cao nhất của người dân trên thế giới khoảng 20% (Mỹ 19%, Pháp 7%, Trung Quốc 12%)[5]. “Sức dân” to lớn này cộng với GDĐH được đổi mới đúng hướng, chắc chắn là GDĐH của Việt nam sẽ có những đóng góp xứng đáng vào kỷ nguyên thịnh vượng và hùng cường của đất nước.
Chúng ta cần bình tĩnh đối diện với các yếu kém và khiếm khuyết một cách chân thành, thay vì che đậy, né tránh, bao biện hoặc lấp liếm, không chạy theo đuổi bắt hay thả mồi bắt bóng mà hãy trở lại với những vấn đề cơ bản nhất của con người với một tầm mức sâu và cao hơn, để cho con người làm chủ được hiện thực, trọng thực chất, bỏ qua những cái danh “hão”, lấy thị trường làm thước đo khả năng trong học tập và thước đo đãi ngộ.
2.2. Đổi mới thực chất GDĐH
GDĐH là một hệ thống phức tạp được đặc trưng bởi mục tiêu, cấu trúc, phương thức vận hành và hiệu quả hoạt động. Xét về bản chất và mục tiêu, các hệ thống GDĐH trên thế giới không khác nhau nhiều, vì mỗi đại học khi ra đời đều xác định nhiệm vụ hàng đầu là cung cấp chất lượng giáo dục tốt nhất và nghiên cứu khoa học đáp ứng nhu cầu xã hội ở mức cao nhất. Một trong những điểm dẫn đến sự khác biệt trong phát triển đại học của các nước, ngoại trừ yếu tố về lịch sử, kinh tế và đặc thù đại học, không phải là sự giầu hay nghèo, mà chính là ở cung cách quản trị hệ thống GDĐH.
Trong thời đại ngày nay, GDĐH vừa là một ngành kinh tế vừa là một ngành có nhiệm vụ giáo dục và đào tạo nhân lực trình độ cao cho các ngành kinh tế khác; đồng thời, các trường đại học còn là trung tâm của NCKH và ĐMST.
Chỉ có một lối ra tiết kiệm, nhanh chóng và hiệu quả, đưa đất nước phát triển nhanh với chất lượng cao và bền vững, tiến kịp thời đại trong kỷ nguyên thông tin và tri thức,là đổi mới căn bản, toàn diện, sâu sắc, triệt để có tính cách mạng nền giáo dục và đào tạo nước nhà theo tinh thần của NQ29 ngày 04/11/2013 của Hội nghị TW 8 Khóa XI, trong đó có tư tưởng thực học[6], thực nghiệp mà chí sỹ Phan Châu Trinh đã vạch ra cách đây vừa tròn một thế kỷ, để có được những con người có đủ phẩm chất và năng lực hiện thực hóa NQ57 trong thực tiễn; để NQ57 trở thành sức mạnh vật chất trong cuộc sống. Không thể có chuyện đi dép lốp mà bay vào vũ trụ! Chúng ta không thể chỉ biết đuổi theo kiến thức, chỉ biết có học kiến thức, sao chép kiến thức và kĩ năng của người khác, mà rất cần phải sáng tạo ra các sản phẩm KH&CN mới, các công nghệ nguồn, các bài toán lõi make in Vietnam, made by Vietnamese, mang “bản sắc” Việt nam, đồng thời góp phần xây dựng và định hình nên các thang bậc giá trị mới của con người trong thời đại mới, ở đó không chỉ có việc thăng quan tiến chức trên quan trường hay sự giầu có về tiền bạc, của cải trong xã hội mới là thước đo cho sự thành công của một con người, mới là cái đích phấn đầu của toàn xã hội. Một nền văn hóa thần tượng sự giầu có và thăng tiến không cần biết đến nguồn cội thường dễ làm hư hỏng con người, băng hoại đạo đức, để lại những vết thương, di chứng không mong muốn và sự đổ vỡ niềm tin trong xã hội.
Ở Trung Quốc, ngay từ những năm đầu của thập niên 2000’s, hệ thống GDĐH đã được cải cách mạnh mẽ theo hướng 3D (Decentralization - phân quyền, giao quyền hay Tự chủ hóa; Depoliticization - Phi Chính trị hóa; Diversity - Đa dạng hóa),và 3C (Commercialization - Thương mại hóa; Competition - Cạnh tranh; Cooperation - Hợp tác)[7]. Kết quả là các trường đại học phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng. Chính hệ thống giáo dục được cải cách mạnh mẽ và quyết liệt ấy đã ươm mầm nhân tài và ý chí khởi nghiệp ở mọi tầng lớp nhân dân, tạo ra những nhà lãnh đạo tài giỏi, những nhà khoa học lừng danh, có những đóng góp xứng đáng cho đất nước họ.
Từ 20 năm trước, Đảng ta đã có chủ trương về việc phải đổi mới căn bản và toàn diện GD&ĐT; tư tưởng ấy được thể hiện qua Luật Giáo dục 2005, Nghị quyết 14/2005/NQ-CP và sau này là Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Hội nghị TW 8 Khóa XI. Tiếc là, việc hiện thực hóa tư tưởng lớn này trên thực tế, cho đến nay, không được như mong đợi và kỳ vọng của Đảng, của Dân.
Vì vậy, rất cần nghiên cứu để đưa ra chính sách tập trung phát triển các trường đại học trở thành hạt nhân thúc đẩy ĐMST và khởi nghiệp, đào tạo ra lớp trí thức mới, các nhà khoa học mới, họ là sản phẩm của nền giáo dục dân tộc, nhân bản, khai phóng và nghiêm cẩn. Việt nam sẽ là đất nước xuất khẩu giáo dục, xuất khẩu chuyên gia, xuất khẩu công nghệ, như ngày nay chúng ta đang xuất khẩu người làm thuê, lao động chân tay giản đơn đi các nước phát triển để được “bóc lột” vậy!
Thế nên, muốn tạo ra các bước tiến mang tính đột phá về KH&CN, ĐMST và CĐS, việc đầu tiên là phải tạo lập lên một hệ sinh thái GDĐH hướng tới các tiêu chí của các trường đại học nghiên cứu danh giá trên thế giới. Mẫu số chung của các trường đại học danh tiếng trên thế giới là (i) tự do học thuật, lấy chuyên môn là mục đích chứ ko phải chính trị, quyền lực hay tiền bạc; những thứ giáo điều máy móc, hành chính hóa công tác NCKH bị loại bỏ, vì nó chứa chấp sự giả tạo và dung nạp những con người không thực tài; và (ii) đầu tư những khoản tiền không nhỏ cho các nghiên cứu cơ bản (basic and fundamental R) và nghiên cứu ứng dụng (applied R),tạo ra các công nghệ nguồn, các kĩ thuật then chốt, tạo lập nên nền tảng vững chắc về KH&CN của đất nước, đó là chỗ dựa tin cậy cho sự phát triển của các doanh nghiệp, nơi nghiên cứu phát triển sản phẩm (Development R),nơi tạo ra các thương hiệu quốc gia; và người Việt nam, nhờ thế, có những đóng góp xứng đáng vào kho tàng tri thức của nhân loại, vào tiến bộ xã hội, vì “con đường phát triển của Việt Nam không thể tách rời xu thế chung của thế giới và nền văn minh nhân loại”[8].
2.3. Những việc cần làm ngay
Đổi mới căn bản và toàn diện có nghĩa là đổi mới từ gốc đến ngọn; muốn vậy, phải làm rất nhiều việc. Ở đây, chúng tôi chỉ xin đề cập đến mấy vấn đề sau trong GDĐH:
a) Tự chủ đại học
Những cải cách và đổi mới GDĐH trong những thập niên qua đều hướng tới việc từng bước nâng cao chất lượng GDĐH theo những chuẩn mực và thông lệ quốc tế, đồng thời phù hợp với văn hóa, điều kiện kinh tế của nước ta. Trong khi nền kinh tế nước ta đã chuyển hướng theo kinh tế thị trường được gần 40 năm, nhìn lại thì thấy dường như quản trị đại học “dịch chuyển” không nhiều, về cơ bản vẫn như những gì chúng ta đã thấy ở miền Bắc từ những năm cuối của thế kỷ trước, dù đã có không ít các cố gắng cải cách, và Đảng và Chính phủ đã ban hành nhiều Nghị quyết về vấn đề này. Điều đó đã để lại những hệ lụy không mong muốn.
Tự chủ đại học (TCĐH) được khẳng định là chìa khóa thành công của các trường đại học tiên tiến trên thế giới, nên người ta tin là đổi mới quản trị đại học trước hết là trao quyền tự chủ cho đại học, thể hiện qua việc xây dựng và hình thành thiết chế Hội đồng trường (HĐT),một thiết chế được nhà nước và xã hội ủy quyền, giao quyền quản trị trực tiếp trường đạn học; người ta tin là, điều đó sẽ tạo ra đột phá, tạo ra xung lực mới để GDĐH có thể đổi mới căn bản và toàn diện theo tinh thần Nghị quyết số 29.
Về bản chất, TCĐH xa lạ và đối lập với quản lý hành chính kiểu xin-cho, trường đại học được tự khẳng định vị thế và tầm vóc, thích ứng với cơ chế thị trường, với vai trò quản trị thuộc về HĐT, tổ chức có quyền lực cao nhất trong nhà trường, còn điều hành hoạt động của nhà trường là chức năng của bộ máy quản lý do Hiệu trưởng đứng đầu. Mõi trường đại học là một pháp nhân độc lập trước pháp luật và trước nhà nước; nghĩa là về mặt quản trị quốc gia, họ có quyền làm việc ngang bằng, bình đẳng với các cơ quan quản lý nhà nước, kể cả cơ quan chủ quản (CQCQ),nếu có. Nên về nguyên tắc, TCĐH đồng nghĩa với việc ko còn CQCQ; nếu vì lý do nào đó, CQCQ vẫn tồn tại, thì trường đại học chỉ báo cáo (thực tế là thông báo) cho CQCQ biết những việc họ đang làm và sẽ làm, để nhận được sự hỗ trợ của CQCQ khi cần; CQCQ không can thiệp trực tiếp vào các hoạt động chuyên môn, tổ chức-nhân sự, tài chính-đầu tư của nhà trường, chỉ giám sát và hỗ trợ cơ sở GDĐH thông qua các mục tiêu và kết quả đầu ra mà cơ sở GDĐH đã cam kết với nhà nước, với xã hội, hoặc các mục tiêu và kết quả đầu ra do nhà nước và xã hội giao cho nhà trường.
Trên thực tế, “tự chủ đại học” khi du nhập vào Việt nam đã bị làm cho méo mó, biến dạng, không giống với bất kỳ mô hình TCĐH nào trên thế giới.
Cái gọi là “tự chủ” của chúng ta trên thực tế là tự túc, tự bơi, tự lo về kinh phí; Ngày ký quyết định giao quyền tự chủ cũng là ngày nhà trường bị cắt chi thường xuyên; tự túc càng nhiều, được nhà nước giao quyền tự chủ càng cao; nghĩa là các trường đại học buộc phải đánh đổi giữa việc được nhà nước cấp phát kinh phí chi thường xuyên để có được quyền tự quyết về một số lĩnh vực nào đó do nhà nước qui định. Tiếc là, ngay cả khi đã đánh đổi (hoặc buộc phải đánh đổi),nhà trường cũng không được tự chủ theo như yêu cầu và nhu cầu phát triển đại học đặt ra. Các trường đại học ở Việt nam về cơ bản mới có tự chủ trên giấy, ngoài tự chủ chi thường xuyên 100%, còn mấy thứ được tự chủ thật hoặc thật một phần như tự chủ trong việc mở ngành đào tạo, xác định chỉ tiêu tuyển sinh, liên kết đào tạo với các đối tác bên ngoài, đảm bảo chất lượng đào tạo và kiểm định, một số dịch vụ xã hội… nhưng tất cả đều phải “theo qui định” (mà đã theo qui định thì có nghĩa là quyền tự chủ rất hạn chế); ngoài ra, làm gì cũng phải báo cáo, phải xin phép, vẫn buộc phải “thực hành” cơ chế xin-cho.
Vì vậy, để hiện thực hóa NQ57 trên thực tế, một trong những việc đầu tiên cần làm ngay là trao quyền tự chủ thực chất cho các trường đại học, để các trường đại học có khoảng trời tự do đủ rộng cho các hoạt động chuyên môn. Ở đó, không có chỗ cho sự bày vẽ, phô trương, trục lợi và gian dối; ở đó tồn tại một hệ thống quản trị minh bạch, nơi hiệu quả là trên hết, không phải quyền lực, tiền bạc hay hư danh. Chỉ có tự chủ thực chất, nhất là tự chủ học thuật, mới có thể giúp cho các trường đại học trở thành trung tâm của các phát minh, sáng chế, và ĐMST.
Một trong những việc cần được xem xét lại một cách nghiêm cẩn để TCĐH trở nên thực chất có thể là:
(1) Hệ thống luật pháp hiện hành còn chưa đồng bộ đã ‘trói chân trói tay’ quyền tự chủ của cơ sở giáo dục đại học (CSGDĐH). Vậy nên, cần rà soát, loại bỏ sự chống chéo và cản trở lẫn nhau giữa các luật theo hướng ủng hộ tự chủ đại học.
Tự chủ không có nghĩa là tự do, muốn làm gì thì làm, cùng với qui chế giải trình, nhà nước cần ban hành các qui tắc và nguyên tắc cho TCĐH, tạo hành lang pháp lý đủ rộng cho TCĐH, trong đó có nguyên tắc “tuân thủ hoặc giải trình” khi thục hiện quyền tự chủ của nhà trường.
(2) Tự chủ cũng không có nghĩa là tự lo. Việc đầu tiên cần làm ngay là nhà nước trả lại kinh phí chi thường xuyên, giảm gánh nặng lo tuyển sinh theo chỉ tiêu[9], buộc các trường phải đua nhau ‘đa dạng hóa chương trình đào tạo’ bằng việc mở ra các ngành thời thượng mới, có khả năng thu hút người học, nhưng lại xa rời sứ mạng, tầm nhìn, mục tiêu và các giá trị cốt lõi mà họ (trường đại học) đã xác định vả tuyên thệ với xã hội.
Về học phí, nhà nước cần xác định chi phí đào tạo theo các chuẩn đầu ra phù hợp với nhu cầu và yêu cầu của thị trường lao động; trên cơ sở đó xây dựng chế độ học phí cho từng loại ngành nghề, từng trình độ đào tạo phù hợp với sức chi trả của người dân, phần chi phí đào tạo còn thiếu, nhà nước có trách nhiệm cấp bù cho CSĐT theo đầu sinh viên. Nhờ thế, học phí ko còn là gánh nặng cho dân nghèo, và tuyển sinh ‘đủ chỉ tiêu’ không còn là nỗi lo ngày đêm về ‘cơm áo gạo tiền’ của các CSGDĐH.
Cùng với chế độ học phí phù hợp, nhà nước cũng rất nên cho hình thành các chương trình học bổng (scholaships) cho sinh viên đại học, học viên cao học, NCS tiến sỹ và sau tiến sỹ (Post Doc),nhất là bậc tiến sĩ, như ở các nước có nền GDĐH tiên tiến; chấm dứt tình trạng học hành hời hợt, nghiên cứu vu vơ kiểu tiến sĩ cầu lông, làm NCS chỉ để có cái danh (hão) và làm sang cho cardvisit!
Về chi đầu tư, Nhà nước đầu tư cho các CSGDĐH thông qua “kết quả đầu ra” hay “chỉ số đo lường hiệu suất” KPIs (Key Performance Indicator),không thông qua sự xếp đặt “chiếu trên chiếu dưới” theo sự ngộ nhận hay sự vang bóng một thời của ai đó. Nhờ thế, Nhà nước mới có thể tạo lập ra một ‘sân chơi’ công bằng, bình đẳng, minh bạch cho các trường đại học để các CSGDĐH tự do cạnh tranh công minh và lành mạnh trên cơ sở các sản phẩm đầu ra (KPIs) mà họ cống hiến cho đất nước, cho tiến bộ xã hội, cho kho tàng trí tuệ của nhân loại; từ bỏ lối đầu tư theo một văn bản hành chính cứng nhắc nào đó đã trở nên lỗi thời trong nền kinh tế thị trường. Hình thành và phát triển hệ thống các trường đại học nghiên cứu, ĐMST thực chất; vị thế, tầm vóc của các CSGDĐH do họ tự xây dựng nên qua các thành quả và cống hiến của họ, không ăn mày dĩ vãng hay nhờ cậy vào ân huệ của một ai đó hoặc một văn bản hành chính lạc điệu trong nền kinh tế thị trường.
(3) Về thiết chế Hội đồng trường, có lẽ ít có thiết chế nào vừa vô duyên vừa vô dụng như thế trong môi trường GDĐH của Việt nam; cần cân nhắc giữa hai phương án:
Một là, nếu vẫn duy trì hình thức “tự chủ” như hiện nay thì tốt nhất là xóa bỏ thiết chế này, vì hầu hết các công việc của HĐT theo luật định trên thực tế đã được đảng ủy cấp cơ sở làm trước hết cả rồi; việc ra thêm nghị quyết của HĐT sau khi Đảng uỷ đã ban hành nghị quyết chỉ là việc vẽ thêm chân cho rắn, không có bất kỳ tác dụng thực tế nào; sự tham gia của các thành viên ngoài trường trong HĐT chỉ mang tính hình thức, hội hè, không thực chất, ai tham gia HĐT đều do một bàn tay của Hiệu trưởng cả; điều này khác hoàn toàn với HĐT ở các nước phát triển, ở đó HĐT là một thiết chế quyền lực, thay mặt nhà nước và xã hội quản trị trực tiếp trường đại học, Hiệu trưởng là CEO, “làm thuê” cho HĐT.
Thêm nữa, CSGDĐH dù đã có HĐT nhưng muốn làm việc gì cũng hầu như đều phải báo cáo và xin phép cơ quan chủ quản và các bộ ngành liên quan, vì các qui định pháp luật hiện hành (như Luật công chức, viên chức, Luật ngân sách, Luật đầu tư công, Luật đất đai, Luật mua bán tài sản công, v.v...) ít nhiều “cản phá” nhau; và hình như các cơ quan quản lý nhà nước vẫn chưa muốn ‘buông bỏ’, nên ‘để cho nó lành’, các CSGDĐH, dù muốn dù không, vẫn phải thực hành có chế xin-cho bằng cách này hay cách khác, ở mức độ này hay mức độ khác như khi chưa có HĐT.
Tổ chức Đảng chính là hội đồng quản trị trên thực tế của trường đại học công lập; ở đó bí thư cấp ủy do các đảng viên bầu trong các kỳ đại hội, và là nhân vật có quyền lực cao nhất trong trường đại học, chứ không phải Chủ tịch HĐT, chủ tịch HĐT chỉ là cái bóng mờ của bí thư cấp ủy; có lẽ vì thế Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 25/10/2017, Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã qui định Bí thư cấp ủy của trường đại học công lập đồng thời là chủ tịch HĐT. Vậy nên, đảng ủy là tổ chức chịu trách nhiệm cao nhất về trách nhiệm giải trình với các cơ quan chức năng và xã hội về các hoạt động của nhả trường, chứ không phải HĐT hay BGH.
HĐT, vì thế, là một thực thể hữu danh vô thực, ko có chút thực quyền nào, có người gọi vui đó là thiết chế ‘cái vú đàn ông’! Vậy nên, cần xem xét cho giải tán cái thiết chế mang tính biểu tượng ấy, cho đỡ “vuong chân vướng tay” ông bà hiệu trưởng, vừa nâng cao hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả công tác, vừa tiết kiệm, tránh lãng phí trong quản lý, điều hành nhà trường.
Hai là, Chính phủ nới lỏng kiểm soát, không trực tiếp kiểm soát hoạt động của nhà trường, thay vào đó, sẽ trao quyền tự chủ nhiều hơn cho các trường đại học theo cơ chế “tuân thủ hoặc giải trình”, và khi ấy chính phủ đóng vai trò là người hỗ trợ và tài trợ cho các hoạt động của Nhà trường; nghĩa là chính phủ coi HĐT là một thiết chế thay mặt mình và XH quản trị trực tiếp trường đại học, và giao thực quyền cho HĐT thông qua cơ chế, chính sách; khi ấy Hiệu trưởng được HDT tuyển dụng, hoạt động như CEO, Hiệu trưởng chỉ cần báo cáo và ‘xin ý kiến’ HĐT là đủ khi nhà trường thực hiện các vấn đề về chuyên môn học thuật, tổ chức-nhân sự, tài chính và đầu tư; trừ các vấn đề thuộc về an ninh, quốc phòng và bí mật nhà nước.
Theo cách này, cũng ko nhất thiết phải thành lập HĐT, khi cần lấy ý kiến rộng rãi ngoài xã hội, đảng ủy chỉ việc mời các nhà hoạt động xã hội, các chuyên gia bên ngoài, các doanh nghiệp đóng góp ý kiến là được.
Nếu vậy thì, như một lẽ đương nhiên, đảng ủy tiếp tục lãnh đạo tuyệt đối và toàn diện các hoạt động của nhà trường, giữ vai trò là hạt nhân chính trị, lãnh đạo CSGD thực hiện hiệu quả các đường lối, chủ trương của đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước, nhiệm vụ công tác của HĐT bằng các nghị quyết chung và nghị quyết chuyên đề về các mặt công tác của CSGD mang tính định hướng và chiến lược theo các mục tiêu và kết quả đầu ra; có nhiệm vụ xây dựng đảng bộ trong sạch, vững mạnh. Về công tác cán bộ, đảng uỷ tiến hành quy hoạch các chức vụ quản lý theo các nguyên tắc của đảng, làm cơ sở cho công tác lựa chọn, đào tạo, bồi dưỡng và bổ nhiệm viên chức lãnh đạo của HĐT; ví dụ: Đảng ủy đã qui hoạch được 3 nhà giáo có đủ phẩm chất và năng lực làm hiệu trưởng, còn việc lựa chọn ai trong số đó, là việc của HĐT, đảng ủy không can thiệp vào quá trình này.
Nói cách khác, với tư cách là tổ chức chính trị, đảng ủy lãnh đạo, ra nghị quyết về đường lối phát triển, hệ tư tưởng, sứ mệnh của trường đại học, phù hợp với đặc thù của môi trường học thuật và yêu cầu xây dựng, bảo vệ đất nc; trong khi, là một tổ chức cấu thành từ nhiều bên liên quan, HĐT chịu trách nhiệm về chất lượng chuyên môn, hiệu quả và hiệu suất hoạt động. Để thực hiện nhiệm vụ, HĐT cần được trao quyền quyết định thật sự về nhân sự, tài chính, chủ trương đầu tư, NCKH, đào tạo, hợp tác quốc tế, qua đó chịu trách nhiệm với nhà nước và với xã hội thông qua cơ chế kiểm định theo các KPIs mà CSGD đã cam kết với nhà nước, với xã hội; đồng thời thay mặt chính phủ và xã hội giám sát BGH về các hoạt động này.
Dù ‘xoay’ cách nào thì các trường đại học công lập vẫn là của đảng, của nước, của dân.
b). Thi tuyển sinh đại học và thi tốt nghiệp phổ thông
Trở thành sinh viên chính qui của các trường đại học là ước nguyện và niềm tự hào của học sinh phổ thông và các bậc phụ huynh của một thời chưa xa. Thời ấy, sinh viên đại học phải là những học sinh phổ thông ưu tú nhất trong các bạn bè cùng trang lứa. Theo nhiều người, đào tạo bậc đại học và sau đại học là đào tạo tinh hoa. Ở châu Á, các nước chịu ảnh hưởng của đạo Khổng, dù là nước phát triển như Nhật bản, Hàn Quốc, Đài loan hay Trung Quốc lục địa, vẫn tổ chức thi tuyển sinh đại học hàng năm[10], không nước nào áp dụng tuyển sinh đại học kiểu Mỹ như Việt nam hiện nay, làm giảm giá trị và vị thế người thày trong xã hội, trong con mắt của người học. Do (bị) nhà nước cắt hết chi thường xuyên và một phần hay toàn bộ chi đầu tư sau khi được tự chủ, nên để lo nồi cơm, các CSGDĐH chỉ còn có ba “con đường”, một là tăng qui mô sinh viên, hai là tăng học phí, hoặc cả hai. Vì thế nên hàng năm, ngay sau Tết Nguyên đán, các giảng viên đại học lại tỏa về các trường phổ thông để thực hiện một công việc rất quan trong gọi là “quảng bá tuyển sinh” để săn đón, chào mời từng em học sinh vào học trường mình; thày trường A chưa đi ra thì cô trường B đã tìm đến, mở ra thời đại của “tháo khoán tuyển sinh đại học”, từ khó như thi vào đại học ngày nào nay thành “khó như trượt đại học”! Trượt vào các trường top 1 thì tràn xuống các trường top 2, trượt top 2 thì tràn xuống top 3, top 4, trượt trường công thì vào các trường tư thục, dân lập đang sẵn lòng hoan hỷ chào đón. Vào học đại học quá dễ, nên không ít người học mất đông lực học tập, phấn đấu, học cho xong, học cho qua, học cho có bằng chứ không cần có kiến thức hay kĩ năng để phụng sự đất nước, phụng sự xã hội. Tuyển sinh bậc cao hơn như Thạc sỹ, NCS Tiến sỹ còn dễ hơn nữa; thày vớ được một NCS còn mừng hơn nhặt được của, vì có NCS rồi thì chức danh GS đã ở trong tầm tay. Thật là thảm cảnh! Điều này để lại những di hại lâu dài và khó lường cho công cuộc phát triển và bảo vệ đất nước.
Thế nên, có lẽ việc thi hay xét tốt nghiệp phổ thông cho học sinh nên giao lại các tỉnh, thành; nhà nước (Bộ GD&ĐT) chỉ nên tập trung nguồn lực để ban hành chính sách nhằm tiến tới một nền giáo dục hiện đại và hội nhập của thời 4.0, thích ứng với cơ chế thị trường; trong đó có việc (i) khôi phục lại hình thức thi đại học 3 chung mỗi năm 1 lần, xem xét việc chỉ thi 3 môn Văn, Toán, tiếng Anh; các trường có quyền tổ chức kiểm tra năng lực của thí sinh bằng cách tổ chức các kỳ kiểm tra nhập trường qua các môn học phù hợp với thể tạng của từng trường; hoặc (ii) tổ chức thi nhiều lần/năm theo như cách thi SAT của Mỹ, để chọn lựa được những học sinh khá giỏi vào các trường đại học. Thời buổi của văn hóa số lượng, cá kể đầu rau kể mớ đã qua; bây giờ là kỷ nguyên của văn hóa chất lượng. Đây là cách “phân luồng” người học sau phổ thông khả thi và đỡ tốn kém nhất, mà chúng ta loay hoay mãi vẫn chưa làm được cho ra tấm ra mớ; không coi khoa cử là con đường tiến thân duy nhất.
c). Tiếng Anh phải thực sự trở thành ngôn ngữ thứ hai
Hiện nay, khoảng 90% nguồn thông tin, tri thức khoa học và công nghệ trên internet được viết bằng tiếng Anh. Không ở đâu, tiếng Anh lại cần thiết cho việc hội nhập và khẳng định vị thế bằng NCKH và GDĐH. Hơn ở đâu hết, các CSGDĐH phải là lực lượng đi tiên phong trong việc thực hiện Kết luận 91-KL/TW năm 2024 của Ban CHTW đảng vv từng bước đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học. Bộ GD&ĐT cần sớm ban hành lộ trình, bộ tiêu chí để đo việc sử dụng tiếng Anh “thành thạo và phổ biến” trong chuyên môn và trong giao tiếp của CBVC và của CSGDĐH.
d). Nâng cao vai trò của Hội đồng khoa học và đào tạo
Ở đa số các trường đại học của các nước phát triển, như ở Mỹ, người ta gọi là Hội đồng Khoa học, có trường gọi là Hội đồng các giáo sư, đó là Hội đồng quyền lực về học thuật theo nhiệm kỳ, chứ ko chỉ là Hội đồng tư vấn như Việt nam.
đ). Liên kết các viện Nghiên cứu thuộc các bộ chuyên ngành với các trường đại học
Để các GDĐH và NCKH cùng mạnh, nên khuyến khích liên kết các viện nghiên cứu chuyên ngành mang tính ứng dụng với các trường đại học thành một hệ sinh thái. Pháp và Trung quốc là những nước có kinh nghiệm trong việc xây dựng các mạng lưới Viện - Trường đại học thông qua cơ chế tài chính của nhà nước để các nghiên cứu có thể ứng dụng sớm nhất có thể, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp. Cần đoạn tuyệt với thời kỳ NCKH của các viện nghiên cứu tách rời với hoạt động GD&ĐT của nhà trường; chỉ có như thế thì NCKH mới thực sự trở thành sức sống của trường đại học; NCKH mới được tiếp sức và tiếp lửa từ đội ngũ sinh viên đại học, học viên cao học, nghiên cứu sinh đông đảo của nhà trường; nguồn lực quan trọng này các viện nghiên cứu không thể có.
e). Lựa chọn người đứng đầu CSGDĐH
Với các tổ chức học thuật, tiêu chuẩn hàng đầu để lựa chọn nguoi lãnh đạo là năng lực chuyên môn; họ phải là người được đồng nghiệp và cộng sự kính trọng về phẩm hạnh và nể phục về chuyên môn. Việc qui hoạch lãnh đạo, đào tạo qua các lớp chính trị cao cấp, luân chuyển... có thể đúng với lực lượng vũ trang hay cơ quan quản lý nhà nước ở đâu đó; nhưng với các tổ chức học thuật rất cần được xem xét lại một cách thực chất, hình như những cái đó không phải là phép màu để biến những còn người với đủ các thứ bằng cấp ấy thành lãnh đạo tài giỏi của các cơ quan NCKH và đào tạo đại học. Thường người giỏi chuyên môn thì cũng có khả năng quản lý, điều hành giỏi, vì quản lý hay quản trị suy cho cùng cũng là một khoa học. Nên ‘đo’ cán bộ quản lý bằng KPIs, từ bỏ lối ‘đo’ con người bằng các thước đo không hay ít có liên quan đến chất lượng chuyên môn, đến hiệu quả công tác. Khi cần, các nhà quản lý này sẽ đi học thêm hoặc tự học những kiến thức và kĩ năng cần cho công tác quản lý, điều hành của họ.
Cũng cần chấm dứt việc đề bạt và bổ nhiệm tuần tự từ thấp lên cao, điều đó chưa hẳn đã đúng với các tổ chức học thuật; Tài năng trong KH&CN ko đi theo con đường tuần tự; cái gì cũng tuần tự xếp hàng thì không thể có đột phá.
f). Lưu ý: Chúng ta cũng cần quan tâm đầy đủ hơn đến hai vấn đề sau:
(1) Việt nam đang phát triển nền kinh tế đất nước theo cơ chế thị trường, nhưng không thể coi giáo dục nói chung GDĐH nói riêng, cũng là một loại “thị trường” như mớ rau con cá, mà chỉ có thể là ‘cận thị trường’ (quasi market). Ở các nước phát triển, trường công hoạt động linh hoạt như (chứ không phải ‘là’) một doanh nghiệp để đảm bảo hiệu quả đầu tư, nên các cơ sở giáo dục mang hương vị ‘cận thị trường’ nhằm thích ứng với kinh tế thị trường nhưng tránh bị thương mại hóa tuyệt đối, với sự hỗ trợ, giám sát và điều tiết của xã hội và của nhà nước; bởi vì, giáo dục là quyền phổ quát, không thể bị biến thành hàng hóa. Khó là cái ‘quasi market’ ấy đuoc thiết kế và vận hành như thế nào trong điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của Việt nam lại chưa được làm rõ, gây khó khăn cho yêu cầu ‘đáp ứng nhu cầu xã hội’ của các trường đại học.
Nhìn vào các trường đại học trên thế giới, kể cả những trường danh tiếng và giàu có như Harvard, MIT, Oxford sẽ rất khó tìm được trường nào hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận chứ không phải vì mục tiêu xây dựng danh tiếng dựa trên chất lượng đào tạo và NCKH. Việc các trường đại học ăn nên làm ra chỉ là kết quả tất yếu chứ không phải mục đích ban đầu. Cơ cấu tổ chức và hoạt động giáo dục mà mỗi đơn vị tuân theo lợi ích cục bộ, thiển cận, nhiều hơn là quan tâm đến lợi ích cơ bản và lâu dài của cộng đồng, tất yếu sẽ dẫn đến việc hình thành các loại chợ giáo dục!
(2) Hình như chưa có Thông tư hướng dẫn thực hiện Khoản 2 Điều 43 về Thời hạn giữ chức vụ của Nghị định 85/2023/NĐ-CP, ngày 07 tháng 12 năm 2023 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định số 115/2020/NĐ-CP ngày 25/9/2020 về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức: “Viên chức quản lý có thể được bổ nhiệm lại với số lần không hạn chế để giữ một chức vụ quản lý, trừ trường hợp có quy định khác của Đảng hoặc của pháp luật chuyên ngành.”. Việc bổ nhiệm lại này cần có các tiêu chí cụ thể để “đo” hiệu quả và hiệu năng quản lý và phẩm hạnh của viên chức quản lý của nhiệm kỳ hiện tại và cam kết của họ cho nhiệm kỳ tiếp theo để xem xét, quyết định họ có xứng đáng được bổ nhiệm lại hay không; ví dụ, với các CSGDĐH nên dựa vào 6 tiêu chí chính là i. Số sinh viên có việc làm đúng ngành nghề được đào tạo sau 12 tháng tốt nghiệp; ii. Số phát minh, sáng chế, số bài báo quốc tế Q1 và Q2; iii. Số các nhà khoa học người nước ngoài và số sinh viên quốc tế đến làm việc và học tập tại đơn vị; iv. Số giảng viên được mời làm nghiên cứu viên cao cấp (senior research fellow) hoặc giáo sư thỉng giảng (visitng professor) tại các trường đại học thuộc top 200 theo bảng xếp hạng của THE hoặc QS; v. Số kinh phí có trong tài khoản ngân hàng và kho bạc; và vi. Thu nhập thực tế tính theo giá tương đương của cán bộ công nhân viên và người lao động.
Nếu không kèm theo các tiêu chí ràng buộc, người đứng đầu cơ cở đào tạo và NCKH rất có thể được bổ nhiệm lại suốt đời, cho đến tuổi nghỉ hưu theo qui định của nhà nước, vì họ đã tập hợp được xung quanh họ đội ngũ các lãnh đạo chủ chốt là những ngườii thân quen, cùng lợi ích, đầu óc chưa biết đến đâu nhưng xu nịnh thì có thừa, và họ nghiễm nhiên trở thành một lãnh đạo lúc nào cũng tài tình sáng suốt đúng đắn! Điều đó để lại những di hại không mong muốn cho CSGDĐH; nhãn tiền là sự trì trệ, bảo thủ và mất dân chủ.
3. Đổi mới công tác Quản lý KH&CN & Tổ chức NC

