Skip to content

Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam nêu bốn kiến nghị để đẩy mạnh ứng dụng công nghệ sinh học thế hệ mới

28/10/20265 lượt đọc


GS.TS. Nguyễn Thị Lan đề xuất việc nghiên cứu, ứng dụng công nghệ sinh học thế hệ mới trong nông nghiệp theo nhu cầu doanh nghiệp và thị trường, khuyến khích doanh nghiệp chủ động tham gia xác định nhiệm vụ, thử nghiệm và hoàn thiện sản phẩm.

Tại Hội nghị “Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thúc đẩy tăng trưởng ngành Nông nghiệp và Môi trường” khu vực phía Bắc sáng 27/10, GS.TS Nguyễn Thị Lan - Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã có tham luận quan trọng với chủ đề: "Nghiên cứu, ứng dụng công nghệ sinh học thế hệ mới trong nông nghiệp: Tháo gỡ điểm nghẽn thể chế, phát triển doanh nghiệp spin-off và thương mại hóa kết quả nghiên cứu từ thực tiễn Học viện Nông nghiệp Việt Nam".

Theo GS.TS Nguyễn Thị Lan, công nghệ sinh học thế hệ mới cho phép tác động ngày càng chính xác vào gen, tế bào và các hệ thống sinh học. Những hướng tiêu biểu gồm chỉnh sửa gen, sinh học tổng hợp, công nghệ protein, vaccine và hệ vi sinh vật, kết hợp với dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo.

"Các công nghệ này giúp tạo giống tốt hơn, kiểm soát dịch bệnh, sử dụng hiệu quả đầu vào và chuyển phụ phẩm thành sản phẩm có giá trị; qua đó nâng cao năng lực tự chủ về giống, sinh phẩm và sức cạnh tranh của ngành. Để trở thành động lực tăng trưởng, công nghệ cần được phát triển thành sản phẩm có hiệu quả, an toàn, giá thành phù hợp và đáp ứng nhu cầu thị trường" - GS.TS Nguyễn Thị Lan nhấn mạnh.

GS.TS Nguyễn Thị Lan - Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam đưa ra 4 kiến nghị để thúc đẩy nghiên cứu, ứng dụng công nghệ sinh học thế hệ mới vào thực tiễn sản xuất. 

Dẫn kinh nghiệm quốc tế về tiềm năng tạo nông sản giá trị cao từ công nghệ sinh học thế hệ mới như Nhật Bản đã thương mại hóa cà chua chỉnh sửa gen giàu GABA từ năm 2021; Đại học Wageningen của Hà Lan hợp tác với doanh nghiệp ứng dụng công nghệ hệ gen trong chọn giống, GS.TS Nguyễn Thị Lan cho rằng, Việt Nam đã có bước tiến về công nghệ sinh học thế hệ mới như công nghệ hệ gen, chỉnh sửa gen và sinh phẩm tiên tiến, nhưng ứng dụng chưa đồng đều; nhiều kết quả cần tiếp tục thử nghiệm, đánh giá an toàn và giảm giá thành. Việt Nam có tiềm năng lớn để phát triển công nghệ sinh học thế hệ mới.

Để nâng cao thu nhập nông dân, nâng cao sức cạnh tranh doanh nghiệp, nguồn thu bản quyền, năng lực tự chủ và xuất khẩu, theo GS.TS Nguyễn Thị Lan, cần chọn đúng bài toán, gắn kết 3 nhà (quản lý - khoa học - doanh nghiệp) chặt chẽ hoàn thiện sản phẩm đến cùng.

Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam cho biết, Học viện đã đạt được nhiều thành tựu ứng dụng công nghệ sinh học trong nghiên cứu, chọn tạo giống như: Ứng dụng chỉ thị phân tử trong chọn giống; nghiên cứu chỉnh sửa gen Myostatin trên bò Mông theo hướng tăng cơ; phát triển vaccine, sinh phẩm chẩn đoán, kháng thể IgY và tổ hợp thực khuẩn thể nhằm kiểm soát dịch bệnh, giảm nhu cầu sử dụng kháng sinh. Học viện cũng đang triển khai bảo hộ sở hữu trí tuệ đối với kết quả nghiên cứu vaccine dịch tả lợn châu Phi. Các công nghệ mới tiếp tục được hoàn thiện, đánh giá hiệu quả và an toàn.

Giai đoạn 2016–2026, Học viện có 10 bằng độc quyền sáng chế, giải pháp hữu ích; 25 bằng bảo hộ giống cây trồng; 128 giống cây trồng được công nhận lưu hành và 42 tiến bộ kỹ thuật.

Nhiều kết quả đã được chuyển giao như lợn Piétrain kháng stress, lai tạo bò thịt sử dụng giống bò BBB, khí canh sản xuất giống khoai tây sạch bệnh, chế phẩm EMINA, VNUA-Biomix và công nghệ nấm, vi tảo. Công nghệ khí canh đã được triển khai tại Indonesia, giống lúa CT16 tại Cuba.

Tuy nhiên, GS.TS Nguyễn Thị Lan cũng chỉ rõ một số điểm nghẽn trong ứng dụng công nghệ sinh học vào thực tiễn sản xuất.

Thứ nhất, thiếu sự phối hợp xuyên suốt trong toàn chuỗi và thiếu đội ngũ dẫn dắt từ nghiên cứu đến thị trường.Các nhiệm vụ lớn cần đầu mối điều phối, chuyên gia làm chủ công nghệ lõi và doanh nghiệp tham gia ngay từ đầu. Trong khi đó, đội ngũ tư vấn lựa chọn công nghệ, kết nối nghiên cứu liên ngành, kết nối DN và hỗ trợ thương mại hóa còn thiếu; nhà khoa học vẫn phải tự đảm nhiệm nhiều việc từ nghiên cứu đến tìm thị trường, đàm phán hợp đồng, dẫn đến hiệu quả thương mại hóa không cao.

Thứ hai, nguồn lực đưa công nghệ từ phòng thí nghiệm đến quy mô sản xuất chưa đáp ứng yêu cầu. Thiếu kinh phí sản xuất thử, tiêu chuẩn hóa và hoàn thiện hồ sơ khiến nhiều kết quả có triển vọng chưa đủ điều kiện để doanh nghiệp tiếp nhận.

Thứ ba, còn vướng mắc khi áp dụng quy định về tài sản trí tuệ và tài sản công vào từng hồ sơ. Mặc dù đã có nhiều quy định, nhiều hướng dẫn về định giá công nghệ góp vốn vào doanh nghiệp, nhưng các nhà khoa học vẫn còn chưa quen, chưa thành thạo trong việc xác định giá trị công nghệ; các nhà khoa học vẫn còn lúng túng trong việc chia sẻ, xác định giá trị đóng góp của công ty spin off trong việc sử dụng chung phòng thí nghiệm của các truong đại học, viện nghiên cứu. Cần hướng dẫn thống nhất, rõ thẩm quyền và trách nhiệm để các đơn vị triển khai thuận lợi, đúng quy định.

Từ thực tế đó, Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam đưa ra 4 kiến nghị:

Một là, gắn nghiên cứu với nhu cầu thực tiễn và đầu tư xuyên suốt đến khi sản phảm có thể thương mại hóa. Khuyến khích doanh nghiệp tham gia ngay từ khi xác định bài toán, cùng đầu tư, hoàn thiện sản phẩm và phát triển thị trường. Chú trọng đánh giá năng lực làm chủ công nghệ, chất lượng sản phẩm và hiệu quả ứng dụng; hỗ trợ hoàn thiện, chuyển giao theo từng giai đoạn phù hợp với quy định. Nên đầu tư kinh phí thêm cho giai đoạn sau nghiên cứu để hoàn thiện công nghệ và nghiên cứu thị truong của sản phẩm nghiên cứu.

Hai là, hỗ trợ giải quyết những vướng mắc trong triển khai doanh nghiệp spin-off. Đề nghị các cơ quan liên quan phối hợp hướng dẫn, tập huấn việc định giá công nghệ, góp vốn và khai thác tài sản trí tuệ, sử dụng phòng thí nghiệm, thiết bị cho các nhà khoa học, các cơ sở nghiên cứu.

Ba là, phát triển đội ngũ dẫn dắt nghiên cứu và thương mại hóa. GS.TS Nguyễn Thị Lan đề nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Chính phủ sớm xem xét, phê duyệt Đề án đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao tạo đột phá khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, trong đó ưu tiên chuyên gia đầu ngành, trưởng nhóm làm chủ công nghệ chiến lược, công nghệ lõi; chuyên gia quản lý khoa học, chuyên gia tư vấn công nghệ, xây dựng chính sách và phát triển thị trường. Đào tạo cần gắn với nhiệm vụ cụ thể, kết hợp hợp tác quốc tế; tăng cường phối hợp giữa cơ quan quản lý, viện, trường và doanh nghiệp; cần có cơ chế chính sách và chế tài đủ mạnh, đủ hấp dẫn để gắn kết chặt chẽ 3 nhà (nhà khoa học, nhà quản lý và nhà doanh nghiệp).

Bốn là, đầu tư hạ tầng gắn với hiệu quả khai thác, sử dụng chung. Đề nghị đầu tư phòng thí nghiệm tham chiếu/phòng thí nghiệm trọng điểm về chất lượng và an toàn thực phẩm, chẩn đoán dịch bênh đạt tiêu chuẩn quốc tế đặt tại các trường đại học để nâng cao năng lực hệ thống phòng thí nghiệm của ngành đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu của thị trường xuất nhập khẩu.

https://danviet.vn/

5/5 (1 bầu chọn)  

Hỗ trợ trực tuyến

 Ngoại ngữ Trung-Nhật-Hàn

quynhtrangmoon1998@gmail.com | 0981890542

Ngoại ngữ Tiếng Anh

Lc0350@gmail.com  | 0904967677

Du học-Đào tạo Quốc tế

vananhnn1@gmail.com | 0367029910

Thực tập sinh Nhật Bản

nguyenthanhbinh@vnua.edu.vn | 0904092627

Đang trực tuyến:
Đã truy cập: